vilong.congtythietke.vn


Cây thuốc quý

Quả mướp

Nói đến quả mướp, người ta thường nghĩ ngay đến món canh mướp, mùng tơi và rau đay nấu với cua đồng hoặc tôm khô, ăn kèm với vài quả cà pháo chín tới giòn tan trong những ngày hè oi ả... Nhưng chắc chắn nhiều người chưa biết rằng từ quả mướp, người ta còn chế ra được khá nhiều đồ uống có công dụng giải khát chữa bệnh rất độc đáo.

 

 

Xin giới thiệu một số công thức điển hình để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng.

· Công thức 1: Mướp tươi 500g, đường trắng vừa đủ. Mướp rửa thật sạch, cắt nhỏ, ép lấy nước (nếu dùng máy ép là tốt nhất) rồi hòa với đường trắng, dùng làm nước giải khát trong ngày. Công dụng: thanh nhiệt, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

· Công thức 2: Mướp tươi 500g, khổ qua 200g, đường trắng lượng vừa đủ. Mướp gọt vỏ, khổ qua bỏ ruột, rửa sạch, thái vụn rồi ép lấy nước, hòa đường trắng, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: giải thử nhiệt, làm sáng mắt, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

· Công thức 3: Mướp tươi 500g, khế 200g, đường trắng lượng vừa đủ. Mướp gọt vỏ, khế rửa sạch, thái vụn, ép lấy nước, hòa đường trắng, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái, là loại đồ uống rất giàu sinh tố và các nguyên tố vi lượng, dùng làm nước giải khát mùa hè rất tốt.

· Công thức 4: Mướp tươi 500g, củ cải 200g, đường trắng lượng vừa đủ. Mướp và củ cải gọt vỏ, thái vụn, ép lấy nước, hòa đường trắng, dùng làm nước giải khát trong ngày. Công dụng: hành khí lợi niệu, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

· Công thức 5: Mướp tươi 500g, rau cần tây 100g, một chút muối ăn. Mướp gọt vỏ rửa sạch, thái miếng; Rau cần rửa sạch, cắt đoạn; Hai thứ đem ép lấy nước, lọc qua vải sạch, pha thêm một chút muối, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: bình can, hạ huyết áp, thanh nhiệt trừ phong, nhuận phế, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

· Công thức 6: Mướp tươi 500g, măng lau 100g, một chút muối ăn. Mướp gọt vỏ rửa sạch, măng lau chần nước sôi, thái vụn, ép lấy nước, hòa thêm một chút muối, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: thanh nhiệt, tiêu viêm và phòng chống ung thư.

· Công thức 7: Mướp tươi 500g, nước dừa 500ml. Mướp gọt vỏ, rửa sạch, thái miếng, ép lấy nước, hòa với nước dừa, dùng làm nước giải khát trong ngày. Công dụng: giải thử nhiệt, làm sáng mắt, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

· Công thức 8: Mướp tươi 100g, sữa bò tươi 500ml. Mướp gọt vỏ rửa sạch, thái vụn rồi ép lấy nước, hòa với sữa tươi, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: bồi bổ sức khỏe, thanh nhiệt, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

· Công thức 9: Mướp tươi 300g, táo tây 200g, chanh 50g, đường phèn lượng vừa đủ. Mướp và táo gọt vỏ, rửa sạch, thái vụn, ép lấy nước, hòa với nước chanh và đường phèn, dùng làm nước giải khát trong ngày. Công dụng: bổ dưỡng, lợi tiểu, thanh nhiệt, bình can, giáng áp, dùng làm nước giải khát rất tốt cho những người bị cao huyết áp, viêm thận, viêm gan.

· Công thức 10: Mướp tươi 200g, hành tây 20g. Mướp và hành tây bỏ vỏ, thái vụn, ép lấy nước, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: giải độc sung dương, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

Mướp có tên khoa học là Luffa cylindrica (L.) Roem, trong dân gian còn gọi là ty qua, thiên ty qua, bố qua, thiên lạc ty, thủy qua, miến dương qua, thô qua, miên qua... Theo dinh dưỡng học hiện đại, cứ mỗi 100g quả mướp có chứa 95,1g nước; 0,9g protid; 0,1g lipid; 3g glucid; 0,5g xeluloza; 0,5g chất tro; 28mg canxi; 45mg photpho; 0,8mg sắt; 160mcg betacaroten; 0,04mg vitamin B1; 0,06mg vitamin B2; 8mg vitamin C và một số chất như Luffein, Citruline, Cucurbitacin... Theo dược học cổ truyền, mướp vị ngọt, tính mát, vào được hai kinh Can và Vị, có công dụng sinh tân, chỉ khái, thanh nhiệt, hóa đàm, lương huyết, giải độc, an thai, thông sữa, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như sốt cao phiền khát, ho suyễn nhiều đờm (viêm họng, viêm phế quản), trĩ băng lậu, khí hư, huyết lâm (viêm đường tiết niệu, viêm bàng quang, viêm bể thận...) mụn nhọt, ung thũng, sản phụ sữa không thông, táo bón... Điều cần lưu ý, những người tỳ vị hư yếu hay đau bụng, đại tiện phân thường xuyên lỏng hoặc nát thì không nên ăn và những người liệt dương thì không được ăn nhiều.

Theo Thông tin Y học Việt Nam

 

 

Rau muống trị lòi dom, trĩ

Mùa hè có nhiều loại rau khác nhau, nhưng rau muống vẫn là loại rau dân giã, dễ chế biến, dễ ăn và có thể thu hái quanh năm nhưng hễ vào dịp hè thì vẫn là loại rau thích hợp hơn cả.


Là loại rau sống thuộc vùng nhiệt đới châu Á, khu vực Nam và Đông Nam Á, nhiệt đới châu Phi, Trung Á, Nam Mỹ và châu Đại Dương. Ngoài tên gọi là rau muống còn nhiều tên Hán tự gọi khác nhau như Vô tâm thái hay Ung thái hoặc Uông thái, Thông thái, Không tâm thái...

Tên khoa học của rau muống là lpomoea aquatica Forsk, thuộc họ khoai lang, có tài liệu gọi là họ Bìm bìm (Convolvulaceae). Lá rau muống hình tam giác hay hình mũi tên, hoa trắng hoặc tím tùy theo từng giống rau muống. Quả nang, chứa 4 hạt có lông màu hung.

Đông y cho rằng, rau muống có vị ngọt, tính hơi lạnh (khi nấu chín thì lạnh giảm), đi vào các kinh Tâm, Can, Tiểu trường, Đại trường. Có công năng thanh nhiệt, lương huyết, chỉ huyết, thông đại tiểu tiện, lợi thủy, giải độc khi cơ thể bị xâm nhập các chất độc của nấm độc, cá, thịt độc, lá ngón, khuẩn độc, hoặc độc chất do côn trùng, rắn, rết cắn…

Rau muống có nhiều tính năng và tác dụng trong việc phòng, chữa nhiểu chứng bệnh mà tiêu biểu là thanh nhiệt, giải độc trong mùa hè, thanh nhiệt, lương huyết, cầm máu, chữa tâm phiền, chảy máu mũi, lưỡi đỏ rêu vàng, khát nước, ù tai chóng mặt, đau đầu do huyết áp cao, đau dạ dày, nóng ruột, ợ chua, miệng khô đắng, say hay ngộ độc sắn, giải độc do ngộ độc thức ăn, các chứng chảy máu (chảy máu cam, ho nôn ra máu, tiểu tiện đục hay ra máu, trĩ, lỵ…), sản phụ khó sinh, khí hư, bạch đới, phù thũng toàn thân do thận, bí đái, tiểu đường, quai bị, chứng đẹn trong miệng ở trẻ, lở ngứa, loét da, Zona (giời leo), rôm sảy, sởi thủy đậu ở trẻ em, ong đốt, rắn giun cắn…

 


Để tham khảo, đồng thời có thể chọn lựa áp dụng sao cho thích hợp, an toàn, hiệu quả, dưới đây xin giới thiệu cụ thể những phương thuốc tiêu biểu được trị liệu từ rau muống.

* Trị trẻ nóng nhiệt ra mồ hôi mùa hè: Lấy rau muống 100g, Mã thầy 500g, sắc lấy nước cho trẻ uống thay nước trong ngày.

* Thanh nhiệt lương huyết, cầm máu, chữa tâm phiền, chảy máu mũi, lưỡi đỏ rêu vàng, khát nước mát, ù tai chóng mặt: Rau muống 150g, Cúc hoa 12g, đun sôi 20 phút lọc lấy nước (có thể cho chút đường hòa vào cùng) uống trong ngày.

* Chữa kiết lỵ mùa hè: Lấy 400g cọng rau muống tươi, vỏ quýt khô lâu năm 1 ít, nấu nhỏ lửa trong nhiều giờ lấy nước uống trong ngày.

* Ngộ độc thức ăn hè: Lấy rau muống 1 nắm giã vắt lấy nước cốt uống, nếu nặng mất nước, nhiễm độc phải đi viện cấp cứu ngay.

* Trị đau dạ dày, nóng ruột, ợ chua, miệng khô đắng: Rau muống 20g, rau má 20g, rau sam 16g, cỏ mực 20g, vỏ quýt 12g, tất cả sao qua cho vào ấm đổ 500ml nước, sắc nhỏ lửa còn 250ml, chia 2 lần uống lúc đói.

* Trị tiểu đường: Rau muống đỏ 60g, râu ngô 30g, sắc lấy nước uống trong ngày, cần uống một thời gian vài ngày liền.

* Chữa đẹn trong miệng hoặc lở loét miệng trẻ em: Rau muống tươi 100g, củ hành lá tươi 50g, nấu canh lấy nước cho trẻ uống.

* Lở ngứa ngoài da, zona (giời leo): Lấy ngọn rau muống, lá vòi voi mỗi thứ 1 nắm giã nhuyễn với ít muối đắp lên vết thương.

* Rôm sảy, mẩn ngứa, thủy đậu ở trẻ: Rau muống tươi 1 nắm to, rửa sạch nấu lấy nước xoa, rửa, tắm.

* Trị quai bị: Lấy rau muống 200 - 400g, luộc ăn cả cái lẫn nước. Có thể pha chút đường vào nước mà uống.

* Đau đầu, chảy mủ tai: Rau muống 100g, thịt chó 100g, cho cả vào hầm đến khi thấy thịt chó nhừ là được. Ăn thịt chó, rau muống, uống nước rau. Cần ăn liền vài ngày.

* Trị bốc hỏa đau răng: Rễ rau muống 100g, giấm, nước mỗi thứ một nửa, sắc lấy nước ngậm ngày vài lần.

* Đại, tiểu tiện ra máu: Lấy rau muống lượng vừa đủ, rửa sạch, vò nát vắt lấy nước cốt cho mật ong vào uống. Ngày 1 - 2 lần.

* Trị đi ngoài ra máu, đái máu, nước tiểu đục: Rau muống tươi giã nát vắt lấy nước cốt cho mật ong vào uống, mỗi lần 30 - 50ml.

* Trị chứng chảy máu mũi: Rau muống tươi 100g, đường đỏ vừa đủ, sau nghiền nát cho nước sôi vào mà uống.

* Dạ dày, ruột thấp nhiệt (đi ngoài phân cứng rắn): Hàng ngày lấy rau muống xào hay nấu canh ăn.

* Trị chứng lòi dom, trĩ: Lấy 100g rau muống nấu nhừ gạn lấy nước, cho 120g đường trắng, nấu lên thấy sánh như kẹo mạch nha lấy uống, ngày 2 lần, mỗi lần 100g.

* Trị mụn nhọt mưng mủ: Lấy rau muống tươi rửa sạch với lượng vừa đủ, giã nhuyễn, trộn với mật ong vừa phải, rồi đắp vào mụn nhọt.

* Trị say sắn: Lấy 1 nắm rau muống giã nát vắt lấy nước cốt cho uống một bát chừng 100 - 150ml. (nếu mới ăn vào phải lập tức gây nôn như cù họng bằng long gà, bảo bệnh nhân tự móc họng, uống mùn thớt, kết hợp cho uống nước đậu xanh, nặng phải đi viện cấp cứu).

* Trị sâu bọ, rắn cắn hoặc bỏng lửa: Lấy rau muống vừa đủ để giã vắt lấy 250ml nước cốt, sau cho vào 25ml rượu mà uống, còn bã đắp vào chỗ đau; hoặc lấy rau muống giã nhuyễn cùng muối rồi đắp vào vết thương.

B.S HOÀNG XUÂN ĐẠI   - BÁO NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

 

Hoa mẫu đơn chữa chảy máu cam sau sinh

Hoa mẫu đơn (Người miền Nam gọi là hoa trang) thường được các gia đình trồng làm cây cảnh ở bồn trước sân, trong vườn nhà. Loài hoa cảnh này khá đẹp mắt và tác dụng chữa bệnh, thông qua một số bài thuốc dân gian khá hiệu quả.


Hoa mẫu đơn có các màu đỏ, trắng, vàng. Hoa không chỉ được trồng làm cảnh ở nhà, mà những năm gần đây ở một số vùng, nhất là vùng đồng bằng Bắc bộ, người nông dân đã mang chúng ra đồng để canh tác đại trà, mang lại lợi nhuận kinh tế cao. Sở dĩ chúng được nhiều người nông dân chú trọng phát triển là nhờ loài hoa này đã và đang được thị trường ưa chuộng trong việc cúng lễ tại gia cũng như nơi chùa triền, miếu phủ… Ở những vùng đồi núi, Trung du, hoa mẫu đơn thường mọc tự nhiên. Tại một số nước Đông Nam Á, như Thái Lan, Singapore, Mianma…, hoa mẫu đơn màu đỏ cũng được người dân ưa chuộng trồng hai bên bờ rào làm cảnh.

Theo như các lương y về y học cổ truyền, hoa mẫu đơn có tính bình, vị đắng, đi vào hai kinh của cơ thể là tâm và can. Hoa có công dụng điều kinh hoạt huyết, khư ứ hành trệ, thường được dùng chữa cho phụ nữ bị tình trạng trục trặc về kinh nguyệt, và cả dùng chữa trật tay chân, tổn thương, đau ở vùng lưng và eo. Vỏ của thân cây hoa mẫu đơn, y học cổ truyền dùng làm vị thuốc có tên gọi là đan bì.

 


Một số bài thuốc hữu hiệu

- Trường hợp phụ nữ bị thống kinh (đau bụng khi hành kinh), đau đầu, thì có thể dùng 10 gr hoa mẫu đơn đem sắc (nấu) lấy nước uống (có thể cho vào một ít đường cát trắng).

- Chị em có tình trạng trước mỗi kỳ kinh hay bị đau bụng, đau vùng bụng dưới, có thể dùng bài thuốc: Lấy 10 gr hoa mẫu đơn, 10 gr hoa biển đậu đem nấu lấy nước uống thay cho trà trong ngày.

- Chị em đến kỳ kinh mà không có kinh, tay chân lạnh, kèm đau vùng eo và bụng; hoặc bị chứng xích bạch đới (khí hư ở phụ nữ) có thể dùng 10 gr hoa mẫu đơn, 10 gr hoa quế đem nấu lấy nước uống thay cho trà để cải thiện bệnh. Có thể cho vào ít đường để dễ uống.

- Sản phụ sau sinh bị tình trạng chảy máu cam, có thể dùng vỏ của thân cây hoa mẫu đơn (đông y gọi là vị thuốc mẫu đơn bì hay đan bì) cùng các vị thuốc khác: Bồ hoàng, trắc bách diệp, hoàng cầm, bạch linh (mỗi loại bằng nhau, 8 gr) đem nấu lấy nước uống thay trà.

Để giúp điều kinh hoạt huyết, cải thiện kỳ kinh của phụ nữ không thuận, có thể dùng bài thuốc sau:

Một ít hoa mẫu đơn, cùng 8 gr vị thuốc đương quy, 12 gr thục địa, 6 gr bạch thược, 20 gr xuyên khung. Hoa mẫu đơn rửa sạch rồi cùng các vị thuốc, nửa lít nước cho vào nồi, nấu đến sôi, hạ lửa nhỏ nấu thêm mươi phút nữa, gạn lấy nước, bỏ bã thuốc. Dùng nước này đem nấu với cá, nêm nếm gia vị vừa dùng.

Nam giới bị tình trạng hạ bộ nổi mụn nhọt, có thể dùng bột nghiền từ vỏ thân cây hoa mẫu đơn, bằng cách: Một ngày dùng 3 lần, mỗi lần 4 gr uống với nước.

BS. Lê Hương   - Báo nông nghiệp việt nam

 

Cây duối chữa đái rắt

Duối (hoặc ruối), duối nhám với tên khoa học là Streblus asper Lour., thuộc họ Dâu tằm (Moraceae). Cây thường mọc hoang nhiều nơi, có thân gỗ, cao đến 10m. Cây có thân và cành khúc khuỷu nên được trồng làm bonsai; toàn cây có nhựa mủ trắng.

Lá cứng, mọc so le, hình trứng ngược, dài khoảng 3-7cm, rộng 3cm, mép khía răng, mặt lá rất nhám. Quả mọng hình cầu hơi dẹt, kích thước từ 8-10mm, khi chín màu vàng, ăn được. Mùa hoa quả tháng 6-11. Toàn cây có nhựa mủ trắng. Các bộ phận của cây có thể thu hái quanh năm, dùng tươi hoặc thái ngắn, phơi khô, sao vàng để làm thuốc.

Theo các thầy thuốc, vỏ cây duối chứa các chất asperosid, streblosid và một pregnan glycosid. Ngoài ra còn có n-triacontan, tetracontan-3-on, β-sitosterol, stigmasterol, betulin và acid oleanolic. Chất streblosid có thể so sánh với digitoxin. Chất đắng của vỏ duối có tác dụng đối với cơ tim tương tự adrenalin. Vỏ rễ duối cũng chứa glycosid có tác dụng trợ tim…Gần đây, một nhóm các nhà nghiên cứu từ Trường Đại học Khoa học Malaysia (USM) đã nghiên cứu thành công nước súc miệng không cồn từ rễ cây duối giúp làm sạch và ngăn ngừa ung thư miệng.

 


Theo Đông y, duối có vị đắng, chát, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, thông huyết, cầm máu và sát khuẩn. Nhiều nơi đã sử dụng cây duối để chữa các bệnh giun chỉ, hủi, đau răng, tiêu chảy, ung thư, nhiễm khuẩn đường tai mũi họng. Vỏ duối dùng chữa bệnh phong thấp đau nhức, sâu răng, đau bụng, sốt, tiêu chảy, lỵ, đắp bó chữa gẫy xương. Cành và rễ duối thái mỏng sắc uống làm thuốc thông tiểu, chữa bụng trướng. Vỏ rễ chữa đái đục, bí đái, bệnh giang mai và trị rắn cắn. Liều dùng 12-20g. Thuốc đắp từ rễ duối trị loét, sưng tấy và mụn nhọt có mủ. Nhựa mủ duối có tác dụng sát khuẩn; tẩm vào giấy bản rồi dán hai bên thái dương để chữa nhức đầu, hoặc dùng đắp chỗ nứt nẻ ở tay và gót chân. Trong dân gian, người ta còn dùng chữa đinh nhọt, chốc lở…

Dưới đây là các ứng dụng khác của cây duối:

- Chữa băng huyết, kiết lỵ, lợi sữa: Lá duối (20 g) sao vàng sắc uống.

- Chữa đái rắt, đái buốt, nước đái đục: Vỏ rễ duối, rễ nhót, mỗi vị 20g, sao vàng, sắc uống.

- Chữa sâu răng: Vỏ duối sắc đặc ngậm. Hoặc vỏ duối, củ gấu, hai vị bằng nhau, ngâm rượu 700 trong 1-2 tuần. Sau đó tẩm vào bông rồi đặt vào chỗ sưng, đau.

- Chữa gãy xương: Vỏ duối giã nhỏ với lá thanh táo, dây tơ hồng và chuối tiêu, đắp bó nên ngoài nơi gãy xương.

DS. Mỹ Nữ   -  Báo Nông nghiệp Việt nam

 

Tía tô - Dược thảo của bà bầu

Tía tô là loại gia vị thơm ngon, không thể thiếu trong các món ngon như cháo, chuối đậu, bún ốc... và là vị thuốc giải biểu được dùng phổ biến trong y học cổ truyền. Bộ phận dùng làm thuốc là lá (tô diệp), cành (tô ngạnh), quả (tô tử). 

 

Theo Đông y, tía tô mùi thơm, chứa tinh dầu, tác dụng phát hãn, trừ ôn dịch, lý khí tiêu đờm, dùng chữa ho hen, cảm cúm, đau đầu sổ mũi, viêm họng, chống dị ứng, trị nôn, đau trướng bụng, bí đại tiện. Đối với bà bầu, nó còn là vị thuốc an thai, dưỡng thai hiệu quả. Xin giới thiệu để chị em tham khảo.

Ốm nghén: Chị em thường nôn, chán ăn, người mệt mỏi, thèm ăn những thứ chua, chát…: tía tô 20g, ngải diệp 16g, bạch truật 16g, đương quy 16g, phòng sâm 12g, cẩu tích 12g, đỗ trọng 10g, sơn tra 10g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, liên kiều 12g, sinh khương 3 lát, đại táo 5 quả, cam thảo 12g, phục long can 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: an thai, bổ tỳ, hết nôn.

Tía tô không chỉ là loại rau gia vị quen thuộc trong nhiều món ăn mà còn là vị thuốc an thai dưỡng thai rất tốt.

Thai phụ bị đau bụng, đau lưng, ra huyết: lá và cành tía tô 20g, bạch truật 16g, sa sâm 16g, ngải diệp 12g, a giao 6g, thục địa 16g, hoàng cầm 12g, gừng nướng cháy 6g, đỗ trọng 10g, đương quy 12g, bạch thược 12g, cam thảo 10g, phục long can 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng 7 - 10 ngày liền. Công dụng: an thai, nhuận huyết, chỉ huyết.

Nhiệt thai: chị em bị nóng trong bụng, cồn cào, nước tiểu đỏ lượng ít, ăn uống kém, sưng đau lợi răng, táo bón, tiêu hóa không thông lợi: đương quy 16g, lá và cành tía tô 16g, bạch truật 12g, chi tử 12g, liên kiều 16g, hoàng cầm 10g, đỗ trọng 10g, ngân hoa 10g, rau má 20g, a giao 6g, thục địa 12g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, khởi tử 12g. Sắc uống ngày 1 thang. 7 - 8 ngày là một liệu trình.

Thai phụ bị phù nề, tiểu ít, tê bì hai chi dưới: tía tô 16g, bạch truật 16g, ngũ gia bì 16g, ngải diệp 12g, cao lương khương 10g, thăng ma 10g, sài hồ 12g, trần bì 12g, xa tiền 10g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, hương nhu trắng 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Công dụng: bổ trung, bổ tỳ, thuận khí, thông tiểu.

Thai phụ bị ho hen, nhiều đờm, khó thở: tía tô 16g, cát cánh 16g, kinh giới 12g, trần bì 10g, mơ muối 10g, rau tần dày lá 12g, cam thảo 12g, lá xương sông 12g, tang bạch bì 10g, bối mẫu 10g, bạch linh 10g, bạch quả 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: thanh phế, trừ phong, tiêu đờm, giảm ho.

YHTH
Theo SK&ĐS

1.      

 

 
Trang 1 trong tổng số 2